Tác giả: Phạm Thành Đạt
Công Ty TNHH Thương Mại Thú Y Tiến Phát
1. Đặt vấn đề
Ngoại ký sinh trùng là một vấn đề liên tục và gây đau đầu cho những nhà chăn nuôi heo. Trong khi các chủ trại thường dành sự quan tâm lớn đến các bệnh nội ký sinh trùng (giun, sán), thì ngoại ký sinh trùng lại thường bị bỏ qua hoặc xem nhẹ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đây là “bệnh không của riêng ai” với tỷ lệ nhiễm toàn cầu cực kỳ cao, ước tính khoảng 70-90% các đàn heo trên thế giới bị ảnh hưởng. Tại các trang trại quy mô lớn ở Trung Quốc, tỷ lệ này thậm chí có thể đạt mức gần 100%.
Bệnh ghẻ là một trong những thách thức dai dẳng và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất trong ngành chăn nuôi heo toàn cầu. Dù thường bị xem nhẹ hơn các bệnh nội ký sinh trùng, ghẻ không chỉ gây khó chịu cho vật nuôi mà còn tàn phá hiệu quả chăn nuôi một cách thầm lặng qua việc tăng hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và giảm tốc độ tăng trưởng.
2. Tác nhân gây bệnh:
Bệnh ghẻ trên heo chủ yếu do loài ký sinh trùng đào hang Sarcoptes scabiei var suis gây ra. Đây là loài ký sinh trùng bắt buộc, dành toàn bộ vòng đời trên cơ thể heo.
Sự khác biệt: Cần phân biệt với ghẻ bao lông (Demodex phylloides), loại này hiếm gặp hơn, sống trong nang lông và thường không gây ngứa trầm trọng.
Vòng đời: Kéo dài 1-2 tháng, từ trứng phát triển thành ghẻ trưởng thành trung bình 10-15 ngày.

Cơ chế gây bệnh:
- Đào hầm: Con cái trưởng thành đào hang vào lớp thượng bì của da, tiết ra các enzyme tiêu hóa để hòa tan tế bào sống và dịch mô làm thức ăn.
- Phản ứng quá mẫn: Enzyme, phân và trứng của ghẻ kích hoạt phản ứng dị ứng mạnh mẽ, gây ra tình trạng ngứa dữ dội.
- Nhiễm trùng kế phát: Việc heo liên tục gãi và cọ xát gây trầy xước, tạo cơ hội cho vi khuẩn cơ hội như Staphylococcus hyicus xâm nhập gây viêm da mủ và áp xe. Ghẻ còn làm thay đổi hệ vi sinh vật da, thúc đẩy sự phát triển của các loài tụ cầu khuẩn gây bệnh.

3. Biểu hiện lâm sàng:
Biểu hiện lâm sàng của bệnh ghẻ trên heo thường tiến triển qua các giai đoạn từ kích ứng nhẹ đến tổn thương da nghiêm trọng, cụ thể như sau:
- Thời kỳ đầu ngứa: Do ghẻ tiết nước bọt làm mềm da để dễ đào hang, trong nước bọt có chất độc kích thích gây ngứa ngáy, cọ xát chảy máu và hình thành những mụn, lúc đầu nhỏ về sau dần dần mọng nước, hay gọi là mụn ghẻ.
- Thời kỳ 2 rụng lông: Do con ghẻ vào gốc lông, đào hang làm cho chân lông thoái hoá, dẫn đến rụng, lông rụng nhiều hay ít phụ thuộc vào bệnh nặng hay nhẹ, có khi rụng thành từng đám, có khi cả toàn thân.
- Thời kỳ 3 đóng vảy: Do con vật cọ xát vào thành chuồng làm các mụn nước vỡ ra, khô lại, trên da hình thành những mảnh vảy khô. Sau 5 – 6 tháng da heo hoàn toàn trơ trụi lông, dày và nhăn lại. Bệnh phát triển nhanh và lây lan mạnh và chẳng bao lâu cả đàn bị bệnh ghẻ, heo gầy còm làm ảnh hưởng rất nhiều tới năng suất.
- Vị trí tấn công: Ghẻ thường khởi phát ở mặt trong sau tai, sau đó lan rộng ra đầu, cổ, bụng và toàn thân.





4. Thiệt hại kinh tế:
Ghẻ không chỉ là vấn đề ngoài da mà là sự tổn thất về tài chính là những con số biết nói:
- FCR và ADG: Ghẻ có thể làm giảm tốc độ tăng trọng hàng ngày từ 5% đến 10% và làm tăng hệ số FCR.
- Tỷ lệ chết ở heo con: Nái bị ghẻ thường stress, giảm tiết sữa và dễ đè chết heo con do bồn chồn.
- Chuồng trại: Heo bị ngứa thường xuyên cọ xát vào thành chuồng, gây hư hỏng thiết bị và tăng chi phí sửa chữa.
- Giá trị quầy thịt: Tổn thương da làm giảm chất lượng thịt từ 15% đến 45%.
- Bệnh kế phát: Da bị tổn thương là cửa ngõ cho các vi khuẩn như Staphylococcus hyicus xâm nhập gây viêm da mủ.





5. Chuẩn đoán
– Phương pháp cạo da soi kính hiển vi, đây là phương pháp khẳng định sự hiện diện con ghẻ.
🡺 Phương pháp này độ nhạy thấp: Do tập tính đào hang nên việc cạo da có số lượng ghẻ rất ít thường cho kết quả âm tính giả.

– Phương pháp xét nghiệm Elisa :Phương pháp này phát hiện kháng thể ghẻ trong huyết thanh heo. Kháng thể thường chỉ xuất hiện từ 3–4 tuần sau khi có biểu hiện lâm sàng.
🡺 Phương pháp này độ nhạy cao có thể đạt tới 95% và thường trong việc nghiên cứu, chưa được sử dụng trong việc thương mại.
– Thường dựa vào biểu hiện lâm sàng để chẩn đoán, nhưng cần chẩn đoán phân biệt bệnh ghẻ với các bệnh ngoài da khác để tránh điều trị sai:
- Bệnh :Viêm da, nấm da, đậu heo, PCV2 ….
- Thiếu hụt dinh dưỡng: Thiếu kẽm hoặc thiếu biotin, niacin gây nứt nẻ da.
- Do côn trùng cắn: Các vết đốt từ muỗi, ruồi hoặc bọ chét… có thể gây ra các nốt sẩn đỏ và viêm da dị ứng
6. Giải pháp kiểm soát và điều trị:

Để kiểm soát triệt để, sản phẩm Taktic (chứa 12.5% Amitraz) được đánh giá là giải pháp hàng đầu với cơ chế tác động chuyên biệt.
- Cơ chế tác động của thuốc: Thuốc tác động trực tiếp lên hệ thần kinh của ký sinh trùng bằng cách tăng cường dẫn truyền octopamine, khiến chúng hưng phấn quá mức, tê liệt và chết.
- Phổ tác động: Tiêu diệt cả con trưởng thành, ấu trùng.
- Tính an toàn: Taktic an toàn cho heo ở mọi lứa tuổi, kể cả nái mang thai. Thời gian ngưng thuốc trước khi giết mổ chỉ là 7 ngày.
Quy trình điều trị và phòng bệnh chuẩn để đạt hiệu quả tối ưu, người chăn nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình:
Điều trị:
– Tiến hành lọc lựa heo có biểu hiện lâm sàng ra ô riêng để điều trị nhầm hạn chế lây bệnh cho heo khác
– Phun toàn đàn 2 lần, mỗi lần cách nhau 7–10 ngày để tiêu diệt lứa ấu trùng mới nở.
Phòng bệnh:
– Hậu bị: Xịt trước khi chuyển vào nhà phối.
– Trên nái: Xịt cho nái trước khi vào nhà đẻ để tránh lây sang heo con.
– Heo nọc: Xịt định kỳ 2–3 tháng/lần.
– Heo choai: Xịt heo con lúc cai sữa chuyển sang chuồng thịt
Cách sử dụng:
- Liều pha: 4ml Taktic pha với 1 lít nước sạch (1 lon 250ml pha với 60 lít nước).
- Kỹ thuật phun:
+ Dọn vệ sinh chuồng, tắm heo sạch để cho cho ráo.
+ Sau dó phun dung dịch đã pha ướt đều toàn thân heo, chú ý các hốc kẹt như trong tai, dưới bụng và bẹn.
+ Đặc biệt chú ý sau khi phun heo, cần phun xịt cả nền và vách chuồng để diệt mầm bệnh rơi ngoài môi trường, để tránh trường hợp gây bệnh trở lại cho heo.
Ngoài ra có thể sử sụng sản phẩm chích có thành phần ivermectin để phòng và trị bệnh ghẻ trên heo.

chat Facebook
Chat Zalo